Paclitaxel: công dụng, liều dùng và những lưu ý khi sử dụng

Mục lục [ Ẩn ]
Nhắc tới ung thư, người ta nghĩ ngay đến bản án tử hình cho người bệnh. Nhưng điều này chưa hẳn đã đúng, ngày nay đã có rất nhiều phương pháp điều trị mới, các loại thuốc chữa ung thư thế hệ mới thông minh giúp tăng cường hiệu quả điều trị ung thư. Một trong những thuốc “gối đầu giường” của các bác sỹ chính là Paclitaxel, mời bạn cùng tìm hiểu thông tin về loại thuốc này thông qua bài viết dưới đây nhé.
Thuốc điều trị ung thư Paclitaxel
Thuốc điều trị ung thư Paclitaxel

1. Paclitaxel có tác dụng như thế nào?

Paclitaxel được phân lập từ cây thông đỏ và là thuốc nằm trong danh mục thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế thế giới WHO. Paclitaxel được lưu hành trên thị trường với tên biệt dược là Onxol, Taxol.

Paclitaxel là thuốc hóa trị được sử dụng trong điều trị nhiều loại ung thư khác nhau như: ung thư vú, ung thư buồng trứng và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Bên cạnh đó, loại thuốc này còn dùng trong chữa trị ung thư Kaposi – loại ung thư hiếm gặp liên quan đến người mắc hội chứng suy giảm miễn dịch (AIDS).

Cơ chế hoạt động của hoạt chất này như sau: Paclitaxel thúc đẩy quá trình lắp ráp vi ống bằng cách tăng cường hoạt động của các chất tubulin dimer. Bên cạnh đó, chất hóa học này còn giúp ổn định các vi ống hiện có và ức chế sự phân tách của chúng, can thiệp vào giai đoạn phân bào G2 muộn và ức chế sự nhân lên của tế bào.

Cấu trúc hóa học của Paclitaxel
Cấu trúc hóa học của Paclitaxel

Ngoài ra, thuốc có thể làm biến dạng các trục chính phân bào, dẫn đến sự phá vỡ nhiễm sắc thể của tế bào ung thư. Paclitaxel cũng có thể ức chế sự tăng sinh tế bào và điều chỉnh phản ứng miễn dịch.

Dạng bào chế: Dung dịch đậm đặc để pha tiêm truyền tĩnh mạch với các hàm lượng 100 mg/16,7 mL; 30 mg/5 mL; 150 mg/25 mL; 300 mg / 50 mL.

sdsd

2. Liều lượng – Cách sử dụng

Đây là thuốc chỉ được sử dụng dưới sự chỉ định của bác sỹ và vì là thuốc tiêm truyền nên chỉ được thực hiện với sự trợ giúp của các nhân viên y tế.

Liều điều trị cho bệnh nhân ung thư vú 

Điều trị bổ trợ cho bệnh nhân ung thư vú : tiêm truyền tĩnh mạch với liều 175 mg/m2 trong 3 giờ, 3 tuần/ lần trong 4 chu kỳ.

Đối với bệnh nhân ung thư vú đã di căn hoặc tái phát: tiêm truyền tĩnh mạch với liều 175 mg / m2 trong 3 giờ mỗi lần, và thực hiện với tần xuất 3 tuần/lần.

Liều dùng đối với bệnh nhân Kaposi sarcoma liên quan đến AIDS

Tiêm truyền tĩnh mạch cho bệnh nhân Kaposi sarcoma liên quan đến AIDS với liều 135 mg/m2 trong 3 giờ/lần, 3 tuần/lần hoặc với 100 mg/m2 trong 3 giờ/lần với tần xuất 2 tuần/lần

Do độc tính liên quan đến liều, nên bác sỹ có thể sử dụng liều 100 mg/m2 cho bệnh nhân bị suy giảm chức năng của các bộ phận chuyển hóa và đào thải thuốc như gan, thận…

Liều dùng đối với người bệnh mắc ung thư phổi không phải tế bào nhỏ

Tiêm truyền tĩnh mạch với liều 135 mg/m2 trong 24 giờ, 3 tuần/lần (kết hợp với cisplatin).

Hoặc khi kết hợp với các loại thuốc khác: tiêm truyền tĩnh mạch 200 mg/m2, 3 tuần/lần trong 4 chu kỳ (kết hợp với pembrolizumab và carboplatin) sau đó là điều trị duy trì bằng pembrolizumab.

Hoặc với liều 200 mg/m2 (175 mg/m2 với các bệnh nhân châu Á), 3 tuần/lần trong 4 đến 6 chu kỳ (kết hợp với atezolizumab, bevacizumab và carboplatin) sau đó là điều trị duy trì bằng atezolizumab hoặc bevacizumab.

Liều điều trị với ung thư buồng trứng tiến triển (di căn)

Nếu trước đó bệnh nhân đã được điều trị bằng Paclitaxel thì giờ đây, bệnh nhân sẽ được tiêm truyền tĩnh mạch với liều 135 hoặc 175 mg/m2 trong 3 giờ, 3 tuần/lần.

Nếu trước đấy bệnh nhân không được điều trị bằng Paclitaxel thì liều lượng sẽ là: tiêm truyền tĩnh mạch với liều 175 mg/m2 trong 3 giờ, 3 tuần/lần (kết hợp với cisplatin) hoặc 135 mg/m2 trong 24 giờ, 3 tuần/lần (kết hợp với cisplatin).

sdsd

3. Các tương tác của thuốc Paclitaxel với các thuốc khác và thức ăn

Trong quá trình sử dụng thuốc trong điều trị, trong cơ thể bạn có thể xuất hiện những tương tác thuốc Paclitaxel với các thuốc khác hoặc với đồ ăn mà bạn dùng hàng ngày. Do vậy, biết được những tương tác này sẽ giúp bạn sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn đấy.

3.1. Tương tác của Pacltaxel với các thuốc khác

Trong điều trị ung thư buồng trứng, việc sử dụng Cisplatin cùng lúc với Paclitaxel có thể làm tăng nguy cơ gặp phải tác dụng phụ như thiếu máu, chảy máu nghiêm trọng, nhiễm trùng và tổn thương thần kinh.

Để hạn chế điều này, các bác sỹ sẽ cho bệnh nhân sử dụng Paclitaxel, sau đó mới dùng đến Cisplatin

3.2. Tương tác của Paclitaxel với thực phẩm

Bưởi và nước bưởi có thể làm tăng nồng độ và tác dụng của Paclitaxel trong máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ tác dụng phụ như buồn nôn, tiêu chảy, rụng tóc, đau cơ hoặc yếu cơ, tổn thương thần kinh và suy giảm chức năng tủy xương. Do vậy, bạn nên hạn chế ăn hoặc uống nước ép từ bưởi trong quá trình điều trị bằng Paclitaxel.

Các triệu chứng biển hiện ra bên ngoài khi xuất hiện các tương tác này có thể là:

  • Chóng mặt, ngất xỉu.
  • Chảy máu bất thường, bầm tím da.
  • Viêm loét cơ thể…

Khi rơi vào tình trạng, bạn cần thông báo ngay cho bác sỹ điều trị để có biện pháp xử lý kịp thời, tránh những ảnh hưởng nguy hiểm tới sức khỏe nhé.

sdsd

4. Tác dụng phụ của Paclitaxel

Việc dùng thuốc giống như “con dao 2 lưỡi” vậy, có thể không tránh khỏi những tác dụng phụ nằm ngoài kiểm soát của các nhân viên y tế và bác sỹ khi bạn sử dụng thuốc Paclitaxel. Do vậy, bạn cần cảnh giác với một số tác dụng phụ dưới đây:

Hay gặp

  • Phân màu đen.
  • Mắt mờ.
  • Chóng mặt, ngất xỉu.
  • Đổ mồ hôi.
  • Thở khó khăn.
  • Yếu ở cánh tay, bàn tay, cẳng chân hoặc bàn chân.

Ít phổ biến

  • Nhịp tim chậm.
  • Tức ngực.
  • Khò khè.

Hiếm gặp

  • Tim đập nhanh
  • Thở không đều, nhanh hay chậm, hoặc thở nông
  • Khó thở đột ngột.

Hy vọng rằng qua những chia sẻ của bài viết về thuốc điều trị ung thư Paclitaxel đã giúp bạn có thêm nhiều thông tin hữu ích trong việc sử dụng thuốc đúng cách, phát hiện sớm những tác dụng phụ bất thường thông qua các triệu chứng để có biện pháp can thiệp kịp thời. Chúc bạn điều trị thành công và sớm hồi phục sức khỏe nhé!

Dược sỹ: Nguyễn Bích Ngọc

Xếp hạng: 4 (5 bình chọn)

Kinh nghiệm điều trị bệnh ung thư